Nghị định số 24/2012/NĐ-CP là văn bản quan trọng trong hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh vàng tại Việt Nam. Đối với tiệm vàng, doanh nghiệp vàng và các đơn vị có liên quan đến sản xuất, mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ hoặc vàng miếng, đây là nghị định cần được hiểu đúng cả ở nội dung gốc lẫn tình trạng hiệu lực hiện hành. Nghị định được ban hành ngày 03/04/2012, có hiệu lực từ 25/05/2012, và đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 232/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ 10/10/2025.
Xem thêm Nghị định số 24/2012/NĐ-CP
Nghị định số 24/2012/NĐ-CP là gì?
Nghị định số 24/2012/NĐ-CP là nghị định của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng. Theo Điều 1, phạm vi điều chỉnh của nghị định bao gồm: hoạt động sản xuất, gia công vàng trang sức, mỹ nghệ; hoạt động kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ; hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng; hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng; cùng các hoạt động kinh doanh vàng khác, kể cả kinh doanh vàng trên tài khoản và hoạt động phái sinh về vàng. Nghị định áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh vàng trên lãnh thổ Việt Nam và các chủ thể có liên quan.
Nghị định này đồng thời xác lập nguyên tắc quản lý quan trọng: quyền sở hữu vàng hợp pháp của tổ chức, cá nhân được công nhận và bảo vệ; Ngân hàng Nhà nước là cơ quan thay mặt Chính phủ thống nhất quản lý các hoạt động kinh doanh vàng; hoạt động kinh doanh vàng phải được quản lý theo hướng ổn định, bền vững và tuân thủ pháp luật. Ở bản gốc năm 2012, Nghị định 24 cũng quy định Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất khẩu vàng nguyên liệu và nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng.
Nói cách khác, nếu người đọc tìm kiếm “Nghị định số 24/2012/NĐ-CP là gì”, thì đây là văn bản nền tảng đặt ra khung quản lý pháp lý cho thị trường vàng tại Việt Nam, đặc biệt đối với các hoạt động kinh doanh có điều kiện như mua bán vàng miếng và sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ.
Nội dung chính của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP
Quy định đối với hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ
Nghị định số 24/2012/NĐ-CP quy định doanh nghiệp sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ phải được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ. Để được cấp giấy chứng nhận này, doanh nghiệp phải được thành lập hợp pháp, có đăng ký ngành nghề phù hợp và có địa điểm, cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết phục vụ hoạt động sản xuất.
Không dừng ở điều kiện đầu vào, nghị định còn quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ. Doanh nghiệp phải thực hiện đóng mã ký hiệu và hàm lượng vàng trên sản phẩm, công bố tiêu chuẩn áp dụng, công bố khối lượng sản phẩm, chấp hành quy định về kế toán, hóa đơn chứng từ, đồng thời bảo đảm an toàn sản xuất, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ. Đây là nhóm quy định rất sát với thực tế vận hành của các cơ sở sản xuất nữ trang hiện nay.
Quy định đối với hoạt động mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ
Đối với doanh nghiệp kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ, Nghị định số 24/2012/NĐ-CP yêu cầu phải có đăng ký kinh doanh phù hợp và có địa điểm, cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết cho hoạt động mua bán. Đây là nhóm điều kiện cơ bản nhưng bắt buộc, thể hiện rõ hoạt động kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ không phải lĩnh vực hoàn toàn tự do mà vẫn nằm trong phạm vi quản lý chặt chẽ.
Nghị định cũng quy định doanh nghiệp kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ phải niêm yết công khai tại địa điểm giao dịch về khối lượng, hàm lượng vàng, giá mua, giá bán; chịu trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng sản phẩm bán ra; chấp hành chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ; tuân thủ quy định về đo lường; và có biện pháp bảo đảm an toàn trong hoạt động kinh doanh. Với tiệm vàng, đây là phần có giá trị thực tiễn rất cao vì liên quan trực tiếp đến quầy bán, tem nhãn, chứng từ và kiểm soát chất lượng hàng hóa.
Quy định đối với hoạt động mua, bán vàng miếng
Một trong những nội dung quan trọng nhất của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP là quản lý hoạt động mua, bán vàng miếng. Theo Điều 10, hoạt động mua, bán vàng miếng của tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện tại các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng. Điều này cho thấy vàng miếng là nhóm hoạt động kinh doanh có điều kiện, không phải doanh nghiệp nào cũng được phép tham gia.
Đối với doanh nghiệp, điều kiện để được xem xét cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng gồm: được thành lập hợp pháp; có vốn điều lệ từ 100 tỷ đồng trở lên; có kinh nghiệm kinh doanh mua, bán vàng từ 2 năm trở lên; có số thuế đã nộp từ hoạt động kinh doanh vàng từ 500 triệu đồng/năm trở lên trong 2 năm liên tiếp gần nhất; và có mạng lưới chi nhánh hoặc địa điểm bán hàng tại từ 3 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên.
Đối với tổ chức tín dụng, điều kiện gồm vốn điều lệ từ 3.000 tỷ đồng, có đăng ký hoạt động kinh doanh vàng và có mạng lưới chi nhánh tại từ 5 tỉnh, thành phố trở lên.
Song song với điều kiện cấp phép, Nghị định số 24/2012/NĐ-CP còn quy định trách nhiệm của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng kinh doanh mua, bán vàng miếng: chỉ được mua bán loại vàng miếng theo quy định; không được kinh doanh vàng miếng thông qua đại lý ủy nhiệm; phải chấp hành chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ; niêm yết công khai giá mua và giá bán tại địa điểm giao dịch; có biện pháp bảo đảm an toàn; và tuân thủ các quy định pháp luật liên quan.
Quy định về xuất khẩu, nhập khẩu vàng và trách nhiệm quản lý
Ngoài vàng trang sức, mỹ nghệ và vàng miếng, Nghị định 24/2012/NĐ-CP còn điều chỉnh hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng. Theo đó, việc xuất khẩu, nhập khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ được thực hiện theo đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp; còn việc nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ hoặc sản xuất vàng miếng chịu sự kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước theo từng trường hợp, từng mục đích và từng giai đoạn.
Về quản lý nhà nước, Nghị định giao Ngân hàng Nhà nước thực hiện cấp, thu hồi giấy chứng nhận, giấy phép liên quan; thanh tra, kiểm tra hoạt động sản xuất, kinh doanh vàng; đồng thời phối hợp với các bộ, ngành và địa phương trong quản lý hoạt động kinh doanh vàng.
Các hành vi vi phạm cần lưu ý
Nghị định số 24/2012/NĐ-CP nêu rõ một số hành vi vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng như: sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ không có giấy chứng nhận đủ điều kiện; kinh doanh mua, bán vàng miếng hoặc xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu không có giấy phép; mang vàng vượt mức khi xuất nhập cảnh mà không có giấy phép; sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán; sản xuất vàng miếng trái quy định; và thực hiện các hoạt động kinh doanh vàng khác khi chưa được cho phép. Đây là phần rất quan trọng để người làm nghề nhận diện ranh giới pháp lý trong hoạt động hằng ngày.
Những nội dung sửa đổi, bổ sung cần lưu ý khi tra cứu Nghị định số 24/2012/NĐ-CP
Nghị định số 24/2012/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 232/2025/NĐ-CP, và việc hướng dẫn thi hành hiện còn gắn với Thông tư số 34/2025/TT-NHNN; trước đó, Nghị định 24 cũng từng được hướng dẫn bởi Thông tư số 16/2012/TT-NHNN. Vì vậy, khi áp dụng vào hồ sơ, giấy phép, quy trình giao dịch hoặc báo cáo, không nên chỉ dừng ở bản 2012 mà cần đối chiếu thêm các văn bản hướng dẫn hiện hành.
Điểm sửa đổi đáng chú ý đầu tiên là mở rộng phạm vi điều chỉnh khi bổ sung hoạt động sản xuất vàng miếng vào phạm vi quản lý của nghị định. Đồng thời, khái niệm vàng miếng cũng được sửa theo hướng ghi nhận vàng miếng có ký mã hiệu của doanh nghiệp và ngân hàng thương mại được Ngân hàng Nhà nước cho phép sản xuất, hoặc vàng miếng do Ngân hàng Nhà nước tổ chức sản xuất trong từng thời kỳ.
Điểm đáng chú ý tiếp theo là quy định về thanh toán mua, bán vàng từ 20 triệu đồng trong ngày trở lên của một khách hàng phải thực hiện qua tài khoản thanh toán của khách hàng và của doanh nghiệp kinh doanh vàng mở tại ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Đây là thay đổi ảnh hưởng trực tiếp đến quy trình bán hàng, đối soát và lưu vết giao dịch tại nhiều cửa hàng vàng.
Nghị định sửa đổi cũng bổ sung trách nhiệm đối với doanh nghiệp hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ khi bán vàng nguyên liệu mua từ doanh nghiệp hoặc ngân hàng thương mại theo quy định mới: phải lập và sử dụng hóa đơn điện tử, lưu trữ đầy đủ, chính xác dữ liệu giao dịch và thực hiện kết nối cung cấp thông tin cho Ngân hàng Nhà nước.
Một thay đổi lớn khác là việc bổ sung Điều 11a về điều kiện cấp Giấy phép sản xuất vàng miếng. Theo đó, doanh nghiệp muốn được xem xét cấp phép phải có Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng; có vốn điều lệ từ 1.000 tỷ đồng trở lên; không còn tồn tại vi phạm hành chính chưa khắc phục; và có quy định nội bộ về quy trình nhập nguyên liệu, sản xuất, giám sát và kiểm soát chất lượng. Với ngân hàng thương mại, mức vốn điều lệ tối thiểu được quy định là 50.000 tỷ đồng cùng các yêu cầu tương tự.
Ngoài ra, trách nhiệm của các tổ chức được phép sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng miếng cũng được mở rộng theo hướng tăng yêu cầu về công bố tiêu chuẩn, bảo hành sản phẩm, lưu trữ dữ liệu sản xuất, xây dựng hệ thống thông tin, niêm yết giá mua bán, lưu dữ liệu giao dịch và kết nối cung cấp thông tin cho Ngân hàng Nhà nước. Đây là dấu hiệu cho thấy quản lý thị trường vàng đang dịch chuyển mạnh sang hướng minh bạch dữ liệu, truy vết giao dịch và chuẩn hóa quy trình nội bộ.
Kết luận
Nghị định số 24/2012/NĐ-CP vẫn là văn bản nền tảng về quản lý hoạt động kinh doanh vàng tại Việt Nam. Nội dung cốt lõi của nghị định tập trung vào phạm vi quản lý, điều kiện đối với sản xuất và kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ, điều kiện đối với hoạt động mua, bán vàng miếng, hoạt động xuất nhập khẩu vàng và các hành vi vi phạm cần tránh. Đó là phần gốc mà bất kỳ tổ chức, cá nhân nào hoạt động trong ngành vàng cũng nên nắm rõ.
Phần Mềm Vàng
