Nghị định số 111/2021/NĐ-CP: Nhãn hàng hoá

21/04/2024 Văn bản pháp luật
Nghị định 111/2021/NĐ-CP về nhãn hàng hoá

Nghị định 111/2021/NĐ-CP về nhãn hàng hóa là văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 43/2017/NĐ-CP. Nghị định được ban hành ngày 09/12/2021, có hiệu lực từ ngày 15/02/2022 và áp dụng với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu hàng hóa cùng các bên liên quan. Với tiệm vàng, đây không chỉ là mộzt văn bản để tra cứu khi cần, mà còn là căn cứ ảnh hưởng trực tiếp đến cách ghi tem, ghi xuất xứ và đưa hàng ra lưu thông trên thị trường Việt Nam.

Xem toàn văn Nghị định 111/2021/NĐ-CP

Nghị định 111/2021/NĐ-CP sửa gì và tiệm vàng cần hiểu gì?

Nghị định 111/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nội dung quan trọng của Nghị định 43/2017/NĐ-CP về nhãn hàng hóa. Các nhóm nội dung nổi bật gồm phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, ngôn ngữ trình bày nhãn hàng hóa, trách nhiệm ghi nhãn, nội dung bắt buộc trên nhãn, cách ghi xuất xứđiều khoản chuyển tiếp.

Điểm mà tiệm vàng cần đặc biệt lưu ý là: Những nội dung bắt buộc phải thể hiện trên nhãn hàng hóa lưu thông tại thị trường Việt Nam phải ghi bằng tiếng Việt, trừ hàng hóa xuất khẩu không tiêu thụ trong nước và trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.

Một thay đổi cần chú ý là phần xuất xứ hàng hóa. Nghị định quy định tổ chức, cá nhân tự xác định và ghi xuất xứ, nhưng phải bảo đảm trung thực, chính xác và tuân thủ pháp luật về xuất xứ. Trên nhãn có thể dùng các cụm như “sản xuất tại”, “chế tạo tại”, “nước sản xuất”, “xuất xứ”, “sản xuất bởi”, “sản phẩm của” kèm tên nước hoặc vùng lãnh thổ sản xuất ra hàng hóa hoặc ghi theo quy định pháp luật về xuất xứ hàng hóa.

Nếu không xác định được xuất xứ theo quy định, phải ghi nơi thực hiện công đoạn cuối cùng để hoàn thiện hàng hóa; đồng thời tên nước hoặc vùng lãnh thổ không được viết tắt.

Với hàng nhập khẩu, nhãn gốc khi làm thủ tục thông quan phải có tên hàng hóa, xuất xứ và tên hoặc tên viết tắt của tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc chịu trách nhiệm ở nước ngoài. Sau khi thông quan và đưa về kho, đơn vị nhập khẩu phải bổ sung nhãn tiếng Việt trước khi đưa hàng vào lưu thông tại thị trường Việt Nam. Quy định này khiến việc quản lý tem nhãn không thể làm qua loa ở khâu bán hàng, mà phải bắt đầu ngay từ khâu nhập kho.

Nghị định 111/2021/NĐ-CP này không chỉ liên quan đến “có tem hay không”, mà liên quan đến ghi gì trên tem, ghi bằng ngôn ngữ nào, ghi xuất xứ ra sao và hàng nhập khẩu phải bổ sung nhãn tiếng Việt khi nào.

Nhãn hàng hóa trong tiệm vàng cần có những thông tin nào?

Theo Nghị định, với hàng hóa lưu thông tại Việt Nam bắt buộc phải thể các nội dung sau bằng tiếng Việt

a) Tên hàng hóa;

b) Tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa;

c) Xuất xứ hàng hóa;

Trường hợp không xác định được xuất xứ thì ghi nơi thực hiện công đoạn cuối cùng để hoàn thiện hàng hóa theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định này;

d) Các nội dung bắt buộc khác phải thể hiện trên nhãn theo tính chất của mỗi loại hàng hóa quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này và quy định pháp luật liên quan.

Trường hợp hàng hóa có tính chất thuộc nhiều nhóm quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này và chưa quy định tại văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan, tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa căn cứ vào công dụng chính của hàng hóa tự xác định nhóm của hàng hóa để ghi các nội dung theo quy định tại điểm này.

Trường hợp kích thước hàng hóa không đủ chỗ để thể hiện toàn bộ thông tin, nhãn vẫn phải có ba nội dung cốt lõitên hàng hóa, đơn vị chịu trách nhiệmxuất xứ; các thông tin còn lại được ghi trong tài liệu kèm theo, đồng thời trên nhãn phải chỉ rõ nơi thể hiện các nội dung đó. Quy định này đặc biệt đáng chú ý với tem nữ trang.

Nếu nhìn từ góc độ vận hành, điều đó có nghĩa là một chiếc tem nữ trang không thể chỉ đóng vai trò nhận diện hàng hóa. Nó còn là nơi thể hiện thông tin kỹ thuật và pháp lý của món hàng.

Tiệm vàng cần ghi gì trên nhãn vàng trang sức, mỹ nghệ

Đối với ngành vàng bạc đá quý, Phụ lục I của nghị định quy định thêm các nội dung bắt buộc khác gồm: hàm lượng, khối lượng, khối lượng vật gắn (nếu có), mã ký hiệu sản phẩmthông tin cảnh báo (nếu có). Đây là phần rất sát với thực tế tem nữ trang trong ngành vàng bạc đá quý.

Sai sót đầu tiên là ghi xuất xứ không rõ ràng hoặc ghi theo thói quen. Nghị định cho phép tổ chức, cá nhân tự xác định và ghi xuất xứ, nhưng yêu cầu thông tin phải trung thực, chính xác và đúng quy định. Nếu không xác định được xuất xứ thì phải ghi nơi thực hiện công đoạn cuối cùng để hoàn thiện hàng hóa, chứ không thể bỏ trống hoặc ghi tùy ý.

Sai sót thứ hai là hàng nhập khẩu có nhãn gốc nhưng chưa bổ sung nhãn tiếng Việt trước khi lưu thông. Theo nghị định, hàng nhập khẩu khi làm thủ tục thông quan phải có nhãn gốc với một số nội dung bắt buộc; sau khi thông quan và đưa về kho lưu giữ, đơn vị nhập khẩu phải bổ sung nhãn tiếng Việt trước khi đưa hàng ra thị trường Việt Nam. Với tiệm vàng có nhập hàng hoặc phân phối hàng nhập khẩu, đây là khâu không nên bỏ qua.

Sai sót thứ ba là xem in tem là việc của khâu bán hàng, không xem đó là việc của dữ liệu sản phẩm. Thực tế, lỗi trên tem thường bắt đầu từ khâu nhập hàng, đặt mã, khai báo hàm lượng, vật gắn hoặc chuẩn hóa thông tin sản phẩm. Khi dữ liệu đầu vào đã thiếu đồng nhất, càng về sau càng dễ phát sinh sai sót.

Quy định này đặc biệt đáng chú ý với tem nữ trang, bởi đây là loại tem có diện tích rất nhỏ nhưng vẫn phải thể hiện đúng các nội dung bắt buộc; trên thực tế, nhiều cửa hàng vẫn gặp lỗi ở cách ghi khối lượng, hàm lượng hoặc ký hiệu trên tem.

Xem thêm: Mẫu tem nữ trang đúng chuẩn 2025, quy định, lỗi thường gặp và giải pháp cho tiệm vàng

Làm sao để ghi nhãn đúng mà vẫn vận hành gọn?

Thứ nhất, nên rà soát lại toàn bộ mẫu tem đang dùng theo hướng: có đủ lớp thông tin chung của nhãn hàng hóa chưa, có đủ lớp thông tin riêng của vàng trang sức, mỹ nghệ chưa. Những món có đá, có vật gắn hoặc có xuất xứ nhập khẩu cần được kiểm riêng.

Thứ hai, cần chuẩn hóa dữ liệu sản phẩm ngay từ lúc nhập hàng hoặc tạo mã. Một khi thông tin hàm lượng, khối lượng, vật gắn, xuất xứ và mã ký hiệu được nhập thống nhất, việc in tem và tra cứu sau này sẽ nhẹ hơn rất nhiều.

Thứ ba, với hàng nhập khẩu, nên có một bước kiểm bắt buộc trước khi đưa hàng ra quầy: kiểm nhãn gốc, kiểm thông tin nhà sản xuất hoặc đơn vị chịu trách nhiệm ở nước ngoài, kiểm nhãn tiếng Việt và kiểm tính nhất quán giữa tem, chứng từ và dữ liệu kho.

Thứ tư, nên gắn bài toán nhãn hàng hóa với quản lý tiêu chuẩn cơ sở và quy trình vận hành của cửa hàng. Khi cửa hàng có nhiều nhà cung cấp, nhiều mẫu nữ trang, nhiều dòng sản phẩm và nhiều lần chỉnh sửa thông tin tem, làm thủ công rất dễ dẫn tới sai lệch. Một hệ thống quản lý chuyên ngành sẽ giúp việc khai báo, in tem, tra cứu và đối chiếu diễn ra theo cùng một luồng dữ liệu thay vì tách rời từng khâu.

Kết luận

Nghị định 111/2021/NĐ-CP không phải là văn bản chỉ dành cho bộ phận pháp chế hay để tra cứu khi có kiểm tra. Với tiệm vàng, đây là nền tảng để nhìn lại cách ghi nhãn hàng hóa, cách ghi xuất xứ, cách xử lý hàng nhập khẩu và cách tổ chức dữ liệu phía sau chiếc tem nữ trang. Khi làm đúng từ đầu, cửa hàng không chỉ giảm rủi ro trong khâu đối chiếu mà còn vận hành gọn hơn, minh bạch hơn và chuyên nghiệp hơn trong mắt khách hàng.

Phần Mềm Vàng

Hãy để Phần Mềm Vàng cùng bạn kinh doanh vàng
Trải nghiệm miễn phí
Dùng thử miễn phí
Trải nghiệm ngay phiên bản mới nhất trong 02 tuần hoàn toàn miễn phí! Dùng thử - giá trị thật!

    GỬI NGAY
     Phần Mềm Vàng - Giải pháp quản lý ngành vàng bạc đá quý     Phần Mềm Vàng - Giải pháp quản lý ngành vàng bạc đá quý     Phần mềm vàng - giải pháp quản lý ngành vàng bạc đá quý